Mẫu Liễu Hạnh và sự tích ba lần giáng thế

Mẫu Liễu Hạnh được nhân dân khắp mọi miền tôn thờ là vị Thánh Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên (tam phủ) và Thánh Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên (tứ phủ). Không chỉ thế, hình tượng mẫu Liễu Hạnh còn là đại diện tối cao cho tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt Nam. Bà chúa Liễu Hạnh cùng Chử Đồng Tử, Tản Viên Sơn Thánh và Đức Thánh Trần cũng thuộc bốn vị thánh bất tử (Tứ bất tử) trong quan niệm tâm linh của người Việt. Công ơn to lớn của ngài đã được nhân dân khắc ghi và được ghi nhận qua các sắc phong của nhiều triều đại phong kiến xưa. Vậy mẫu Liễu Hạnh là ai? Tại sao hình tượng thánh mẫu lại được nhân dân tôn thờ ở bậc cao quý như vậy? Hãy cùng Oản Cô Tâm tìm hiểu về sự tích cũng như cách dâng lễ Mẫu Liễu Hạnh trong bài viết này.

Do tình hình .dịch .bệnh phức tạp, nhiều thanh đồng đạo quan cùng các con nhang đệ tử không thể về bái yết cửa Cha cửa Mẹ khiến lòng bề bộn không yên. Hiểu được cảm giác đó, từ tháng 5/2021 Oản Cô Tâm nhận gửi đồ lễ về cửa đền và nhờ thủ nhang kêu cầu vái vọng theo ý nguyện của gia chủ. Để được tư vấn chi tiết hơn, vui lòng gọi đến hotline 03 4545 5959 hoặc nhắn tin zalo đến Oản Cô Tâm.

Mẫu Liễu Hạnh – Danh hiệu và các sắc phong

Các danh hiệu 

Thánh Mẫu Liễu Hạnh (Liễu Hạnh Công Chúa) còn có các danh hiệu khác như Đệ Nhị Địa Tiên, Vân Hương Thánh Mẫu, Chế Thắng hòa Diệu Đại Vương, Mã Hoàng Bồ Tát, Thiên Tiên Thánh Mẫu,…

Các sắc phong

Ghi nhận công ơn và những đóng góp to lớn của thánh mẫu đối với nhân dân, rất nhiều triều đại phong kiến đã ban nhiều sắc phong quý dành cho Mẫu Liễu Hạnh. Các tích sắc phong hầu hết được lưu trữ tại Phủ Dầy – Nam Định. Sắc phong dành cho mẫu bao gồm:

  • Chế thắng hòa diệu đại vương
  • Khâm duy mã vàng bồ tát
  • Tái cấp gia ban đệ nhất Quỳnh Hoa
  • Đệ nhị Tiên nương
  • Đệ tam quảng hàn thượng đẳng tối linh thần
  • Mẫu nghi thiên hạ
  • Nam thiên bất tử
phủ tiên hương
Phủ Dầy – nơi lưu giữ nhiều sắc phong của Thánh Mẫu

Lưu ý khi dâng lễ Mẫu Liễu Hạnh

Mẫu Liễu Hạnh mặc áo màu gì?

“Tháng Tám giỗ cha

Tháng Ba giỗ mẹ”

Mẫu Liễu Hạnh được suy tôn là Đệ Nhất Thánh Mẫu Thượng Thiên và được thờ ở vị trí chính giữa trong Tam tòa Thánh Mẫu với màu áo đỏ đại diện. Ngày tiệc chính tưởng nhớ Thánh Mẫu Liễu Hạnh là ngày 3/3 âm lịch, là ngày hóa của Mẫu trong lần giáng sinh thứ hai, được tổ chức long trọng tại các đền thờ Mẫu. Vào những dịp này, các con hương đến đây thường sắm sửa lễ vật chỉn chu trang trọng dâng Mẫu để bày tỏ tấm lòng kính cẩn.

Xem thêm: Tổng hợp chi tiết những ngày tiệc lớn Tứ Phủ 12 tháng, con hương nhất tâm cần biết.

Mẫu Liễu Hạnh

Sắm lễ dâng Mẫu như nào là thành kính

Lễ vật không nhất thiết cần đủ nhưng cần thành tâm. Bởi các Ngài chứng tâm chứ không chứng lễ. Các thức lễ nên sắm gồm một đĩa hoa, một đĩa quả với nhiều loại quả, một cơi trầu, quả cau, cút rượu, xôi thịt, giấy tiền và cánh sớ báo danh. Khi bạn đến đền lễ mẫu, hãy bày các thức lễ này trên một mâm lễ và dâng lên ban thờ trong đền.

Ngoài những thức lễ này, quanh oản cũng là một trong những lễ vật nên có khi dâng lễ. Đối với Oản dâng lễ Mẫu Liễu Hạnh, ta nên chọn Oản được trang trí màu đỏ giống màu áo của ngài thì sẽ thành tâm hơn cả. Nếu đền có ban thờ 3 vị Thánh Mẫu thì bạn nên sắm 3 quanh oản đủ 3 màu xanh, đỏ, trắng tượng trưng cho 3 vị chứ không nên chỉ sắm 1 riêng một quanh oản với một màu dâng Mẫu Liễu Hạnh.

Với vật phẩm dâng lễ là oản, quý khách có thể tham kháo các mẫu oản được trang trí tỉ mỉ có đầu tư giống với tên gọi Oản Tài Lộc nghệ thuật, Một trong những quanh Oản Tài Lộc màu đỏ thích hợp dâng Mẫu Liễu hạnh có tại Oản Cô Tâm như sau:

Mẫu Oản Mã dâng Mẫu Đệ Nhất:

Đây là dòng sản phẩm đặc biệt được Oản Cô Tâm đầu tư chăm chút đến từng chi tiết nhỏ dưới sự nghiên cứu kỹ lưỡng về hệ thống tâm linh Tam Tứ Phủ. Từ trang phục, nón, hài, quạt đến các phụ kiện trang sức đính kèm đều được dựa nguyên mẫu theo hình ảnh giá hầu Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên. Phẩm lễ Oản mã là lựa chọn của nhiều con hương đệ tử khi sắm lễ Mẫu Liễu Hạnh, bày tỏ tấm lòng thành kính chiêm bái nhà đền. 

Oản Tài Lộc 112
Oản Tài Lộc thiết kế tâm linh dâng lễ Thánh Mẫu

 

oản tài lộc
Oản Tài Lộc màu đỏ dâng Mẫu Liễu Hạnh

Mẫu Oản Lụa dâng Mẫu Đệ Nhất:

Dòng Oản Lụa là mẫu sản phẩm cơ bản tại Oản cô Tâm. Oản Lụa bao gồm 3 size Tiểu, Trung, Đại đáp ứng đa dạng nhu cầu của con hương khi chọn đồ dâng lễ phù hợp. Với thiết kế độc đáo, đa dạng, nhiều mẫu mã, Oản Lụa Tài Lộc chắc chắn sẽ là lễ vật dâng Mẫu Liễu Hạnh sang trọng, đủ đầy và thành tâm. Mời quý khách tham khảo một số mẫu Oản Lụa Tài Lộc đi lễ Mẫu Liễu Hạnh được ưa chuộng nhà Oản Cô Tâm.

Oản Tài Lộc 104
Oản dâng Mẫu Liễu Hạnh nên mang sắc đỏ sẽ thành tâm hơn cả

 

oản tài lộc
Oản Tài Lộc màu đỏ dâng lễ Mẫu Liễu Hạnh

Mẫu Liễu Hạnh và sự tích ba lần giáng sinh

Tương truyền, Mẫu Liễu Hạnh là Đệ Nhị Quỳnh Hoa công chúa – con gái thứ 2 của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Sự tích về lai lịch, hiện thân của ngài được ghi chép và lưu truyền bởi truyền thuyết 3 lần giáng sinh của Mẫu Liễu Hạnh.

Lần giáng sinh thứ nhất (1434 – 1473)

Lần giáng sinh thứ nhất, Tiên Chúa phụng mệnh giáng sinh vào ngày 6/3/1434. Ngài hiện thân là con gái một nhà họ Phạm tại làng Vi Nhuế, thôn Quảng Nạp, xã Trần Xá, huyện Đại Yên, phủ Nghĩa Hưng trấn Sơn Nam (nay là Vị Nhuế, Nam Định). 

Trước đó, phụ thân và phụ mẫu là những người lương thiện, sống ngay thẳng và tích đức, nhưng tuổi đã toan về già mà họ vẫn chưa có con. Ngọc Hoàng Thượng Đế động tâm, hạ lệnh truyền Đệ Nhị Tiên Nương tức Công Chúa Liễu Hạnh xuống trần gian đầu thai làm con họ rồi sẽ trở về Linh Tiêu, cũng không quên báo mộng cho ông Phạm Thái sẽ sớm để con gái của mình đầu thai trở thành con của họ. Quả nhiên, ngay sau đó ít lâu, người vợ mang thai rồi hạ sinh một bé gái vô cùng xinh đẹp, liền đặt tên Phạm Thị Nga. Tiên chúa đầu thai rồi lớn lên ngày càng xinh đẹp, giỏi giang và hết mực hiếu thuận với cha mẹ.

Vào năm giáp thân niên hiệu vua Lê Thánh Tông Quang Thuận Ngũ niên tức năm 1464, Phạm Thái ông và Phạm Thái bà đều lần lượt qua đời. Một thân Đức Tiên chúa lo lắng mồ yên mả đẹp, cầu nguyện cho vong linh cho cha mẹ rồi lên đường chu du khắp thiên hạ làm phước thiện cho đồng dân, từ việc đắp đê ngăn lũ, dựng chùa lập miếu, bố thí cho tất cả bốn phương dân cùng,…

Năm ngài vừa tròn 40 tuổi thì hết thời gian ở hạ giới, nàng hóa thần về trời chầu Thượng Đế, khi đó là giờ dần ngày 2 tháng 3 năm 1473. Vì tưởng nhớ công ơn của nàng, dân chúng liền cho xây hai ngôi đền để thờ phượng. Một là Phủ Đại La Tiên Từ tại nền ngôi nhà cũ thời thơ ấu của Tiên Chúa, hai là Phủ Quảng Cung tại quê mẹ của nàng.

Lần giáng sinh thứ hai (1557 – 1577)

Khi về thiên đình ở trên Linh Tiêu, Đức Tiên Chúa vẫn không nguôi ngoai nỗi nhớ cha mẹ trần thế và vùng đất Nghĩa Hưng. Một lần do mất tập trung, khi Tiên Chúa đang dâng thọ tửu nhân dịp van thọ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế thì lỡ đánh rơi chén ngọc. Đức Ngọc Hoàng thất ý, liền truyền ghi tên vào sổ trích giáng trần thế. Khi đó là vào Lê Thiên Hựu đinh tỵ nguyên niên (1557)

Lần thứ hai giáng thế, bà giáng vào nhà họ Lê Ngụ ở thôn Vân Cát, xã An Thái, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Vào năm 1555, tức năm Tiên Chúa giáng sinh, lúc đó Lê Thái bà đã quá ngày sinh mà vẫn chưa có dấu hiệu sinh nở. Một ngày, trong dịp nửa mê nửa tỉnh, Lê Thái ông thấy mình dự tiệc trên Thiên Đình và được báo rằng sẽ có một cô gái tên Đệ Nhị Quỳnh Nương bị Ngọc Hoàng trích giáng xuống gia trang. Chẳng mấy lâu sau, Thái bà hạ sinh con gái. Thấy đứa con mới sinh hao hao giống với tiên nữ đó nên ông liền đặt tên Lê Thị Thắng, hiệu là Giáng Tiên.

Tiên chúa lớn lên xinh đẹp hơn người, giỏi ngâm thơ vịnh phú, đọc sách gẩy đàn. Khi vừa tròn 18 tuổi, Tiên chúa được phụ mẫu hứa hôn cùng Trần Đào Lang nhưng ngài nhất định không chịu, chỉ muốn thanh tu cho khỏi trần lụy. Sau rồi, Tiên chúa cũng chấp nhận kết duyên cho tròn kiếp và không để phụ lòng thân phụ thân mẫu. Nhưng trớ trêu thay, đến năm 21 tuổi thì ngài không bệnh mà mất vào giờ dần ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, niên hiệu Gia Thái Ngũ niên triều vua Lê Thế Tôn (1577).

Ngài về trời và được thân mẫu trần gian thương xót an táng chu toàn. Sau lần thoát xác trần này, Mẫu Liễu Hạnh cũng được người dân xây dựng đền thờ và lăng mộ ở Phủ Dầy, Nam Định.

Lần giáng sinh thứ ba (1579)

Đức Tiên Chúa về trời, lòng vẫn lấy sự trần chưa duyên mãn mà áy náy khôn nguôn, luôn  sầu ủ mày xuân, châu chan nét ngọc khiến các vị Quần Tiên không khỏi thương cảm, liền tâu với Ngọc Hoàng. Đức Thượng Đế thấy vậy, ban sắc phong “Liễu Hạnh công chúa” cho phép trắc giáng phi thường để tự diêu tự thích khỏi nỗi u sầu. Lúc bấy giờ là năm Kỷ Mão niên hiệu Quang hưng nhị niên triều vua Lê Thế Tôn (1579). Ngài khi ẩn khi hiện về thăm quê hương 2 lần rồi ngao du thiên hạ, tiêu diêu bông đảo rồi giáng hiện tại Nga Sơn, Thanh Hóa vào năm 1609 để tái hợp cùng Mai Sinh – hậu kiếp của Trần Đào Lang. Được hơn một năm thì Tiên Chúa phụng mệnh mãn hạn về trời. Lúc này là vào năm Canh Tuất, niên hiệu Hoàng Định thập nhứt niên triều vua Lê Kính Tông tức năm 1610. 

Sau khi đầu thai xuống hạ giới đủ 3 lần, Mẫu Liễu Hạnh ở lại Thiên cung mà trong lòng ngài vẫn canh cánh nỗi nhớ với nơi trần thế. Hiểu được nỗi lòng của con gái, Ngọc Hoàng cho phép bà hạ thế bất thường lần nữa để hóa phép giúp đời, miễn vòng sinh tử luân hồi. Lần này bà xuất hiện dưới hình hài của một tiên nữ, đi cùng hai tiểu tiên khác, hiện xuống giữa ban ngày ở vùng Phố Cát, tỉnh Thanh Hóa. Ba nàng tiên liền lập chỗ trú ngụ và dùng nhiều loại phép tiên huyền ảo giúp vua giúp dân và giác ngộ Phật Pháp. Theo truyền thuyết về Mẫu Liễu hạnh, nàng đi khắp nơi để cứu nhân độ thế, trừng trị kẻ ác và đắc đạo thành Bồ Tát hiển Phật thánh linh thần. Bởi thế, triều đình và nhân dân lập đền thờ ở nơi nàng giáng trần là đền Sòng, Thanh Hóa.

Nơi thờ Mẫu Liễu Hạnh

Ngài giáng trần tại nhiều nơi gắn liền với nhiều sự tích và các câu chuyện tâm linh khác nhau nên nơi thờ Mẫu Liễu Hạnh được nhân dân xây dựng ở rất nhiều nơi. Trước là để bày tỏ công ơn, sau là để tổ chức lễ hội nhớ ngày tiệc mẫu. Trong những nơi phụng thờ mẫu tiêu biểu nhất là những di tích Đền Phủ có liên quan trực tiếp tới truyền thuyết hiển linh của Mẫu.

Di tích Phủ Dầy

Di tích Phủ Dầy tại Nam Định gắn liền với sự tích giáng sinh lần thứ hai của Bà Chúa Liễu Hạnh. Hằng năm, cứ vào dịp đầu xuân năm mới, đền lại mở rộng cửa đón hàng ngàn con hương đệ tử từ bốn phương về cúng lễ, dâng hương Thánh Mẫu linh thiêng. Cầu thỉnh thánh mẫu phù hộ độ trì cho gia quyến trong ấm ngoài êm, năm mới thuận lợi, cát tường như ý.

Xem chi tiết: Phủ Dầy và kinh nghiệm hành hương dâng lễ Mẫu Liễu Hạnh tai Phủ Dầy

phủ tiên hương
Một góc hình ảnh tại Phủ Dầy

Đền Mẫu Đồng Đăng

Trong thời gian lưu lại tại Thanh Hóa sau 3 lần giáng sinh, Mẫu Liễu Hạnh vẫn ngao du thêm nhiều nơi khác ở phía Bắc Việt Nam. Trong đó, khi chu du đến vùng đất Lạng Sơn, ngài đã gặp trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tại ngôi chùa Đồng Đăng Linh Tự (sau này trở thành Đền Mẫu Đồng Đăng). Gắn liền với sự hiển linh của Mẫu Liễu Hạnh, đền Đồng Đăng cũng trở thành chốn tâm linh thờ thờ phụng nhà ngài nổi tiếng trên cả nước.

Xem chi tiết: Đền Mẫu Đồng Đăng và câu chuyện gặp gỡ giữa Mẫu Liễu và Phùng Khắc Khoan

Phủ Tây Hồ

Sau lần gặp gỡ Phùng Khắc Khoan tại đền Mẫu Đồng Đăng, ngài đã giả dạng làm một cô hàng bán rượu ở Hồ Tây và đã tái ngộ Phùng Khắc Khoan tại nơi đây. Cả 2 người cùng nhau ngâm thơ đối đáp rất thi vị hữu tình, trong đó có bài vịnh “Tây Hồ ngự quán” mà nay vẫn còn lưu truyền mãi.

Chuyện kể rằng: Sau khi về kinh đô vừa mới được thu hồi từ tay nhà Mạc, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan cùng hai người bạn của mình thơ thẩn dạo chơi Tây Hồ. Thấy một quán rượu sạch sẽ ven hồ, ba người quyết định dừng chân. Ngay khi bước vào quán, cả 3 đã bị ấn tượng bởi một bài thơ tứ tuyệt được viết với những nét chữ như rồng bay phượng múa:

Điếm phương môn nội chiếu minh nguyệt,

Thời chính nhân bàng lập thổ khuê,

Khách hữu tam tinh câu nguyệt đối,

Huệ nhiên nhất mộc lưỡng nhân đề.

Dịch:

Cửa quán là đây trăng sáng soi,

Bên mành ai đứng đợi chờ ai,

Khách đến ba người thừa đội nguyệt,

Một cây huệ mọc giữa hai ngài.

Cả bài thơ tựu trung lại là: ‘Điếm môn nhàn. Thời chính giai. Khách hữu tâm. Huệ nhiên lai’. (Quán đương vắng. Thời tiết đẹp. Khách có lòng. Mời vào chơi).

Càng ngẫm càng thấy hay, ba người đều gật gù khen giỏi. Ngay lúc ấy, bỗng có một cô hầu gái xinh đẹp bưng đến một khay rượu kèm một tờ danh thiếp mời ba thi nhân rồi nhẹ nhàng bước vào trong. Phùng Khắc Khoan cầm chiếc thiếp đọc:

Tây Hồ biệt chiếm nhất hồ thiên

(Tây Hồ riêng chiếm một bầu trời)

Ba thi nhân hiểu ngay ý chủ nhân là muốn thử tài họ cùng làm bài thơ liên cú viết về Hồ Tây. Trong tâm trạng hào hứng, họ vừa nhấp rượu, vừa làm thơ, người này nối tiếp người kia, chẳng mấy chốc mà làm nên một bài thơ dài. Sau cùng, bỗng có một giọng trong trẻo cất lên từ sau song cửa:

Đắc nguyệt ưng tri ngã thị tiên

(Trăng tròn soi một bóng tiên thôi)

Ba nhà thơ không bảo nhau nhưng cùng một lúc đập nhẹ tay xuống bàn khen hay. Họ ngỏ lời muốn được gặp chủ nhân nhưng người hầu gái đã từ chối: Liễu chủ nhân của cô có việc bận xin được cáo lỗi. Ngồi thêm một lúc, ba người đành ra về trong nỗi day dứt băn khoăn.

Mấy ngày sau, Phùng Khắc Khoan và hai người bạn ấy lại rủ nhau đến quán rượu cũ. Nhưng khi đến nơi thì quán cũ đã không còn.

Sau lần ấy, Phùng Khắc Khoan cố tìm lại cô hàng rượu ngày nào nhưng không còn. Vì cảm phục trước tài năng của người được ông xem là tri âm, tri kỷ. Ông cho lập đền thờ ngài ngay tại đây. Tên gọi của ngôi đền này chính là Tây Hồ Phủ.

phủ tiên hương
Ban thờ Mẫu Liễu Hạnh tại Phủ Tây Hồ

Phủ Tây Hồ hiện thờ Mẫu Liễu Hạnh và các vị thần linh khác, nay tọa lạc tại ven bờ Hồ Tây, địa chỉ 52 Đặng Thai Mai, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội. Đây là một trong những ngôi đền nổi tiếng nhất Hà Nội hiện nay.

Ngoài ra, còn có những ngôi đền khác thờ Mẫu Liễu liên quan tới dấu tích của Mẫu như đền Phố Cát, đền Sòng Sơn (Thanh Hóa), đền Liễu Hạnh Công Chúa (Quảng Bình) hay Phủ Đồi Ngang (Ninh Bình), Phủ Cấm (Nam Định).

Bản văn Mẫu Liễu Hạnh

VÂN CÁT TAM THẾ THỰC LỤC QUỐC ÂM

Khi nhàn tựa án thảnh thơi

Ngẫm xem tam thế luân hồi đổi thay

Quả tu bởi tại lòng này

Hóa xinh lại hóa xưa nay ai tường

Vẹn sao hai chữ cương thường

Tiên nhân phật quả lưu phương dõi truyền

Nhớ xưa ở huyện Đại Yên

Xã là Trần Xá về miền Nghĩa Hưng

Đương năm Cảnh Thịnh sơ hưng

Cải làn Vỉ Nhuế phỏng chừng tam niên

Thôn Quảng Nạp hiệu Huyền Viên

Phạm gia tích đức bách niên đã nhiều

Xưa làm Phó sư thiên triều

Khâm sai tra sổ phải điều bất công

Bút son vâng mệnh đền rồng

Giáng Trần Xá xã thôn trung đất lành

Đất này tú khí chung linh

Lâu đài cổ tích xung quanh cũng kỳ

Chỉn e tử tức còn trì

Trai đàn mong đợi sau khi nối đời

Đêm ngày khấn Phật cầu trời

Kim Tinh Thái Bạch tới nơi tâu rằng:

Có nhà này ở dưới trăng

Thái Bà Phạm Lão tin nhằm có thai 

Ngọc Hoàng mở sổ ra coi

Phạm công ngày trước vốn người thiên cung

Bởi vì giữ phép không công

Vậy nên trích giáng vào vòng nhân gian

Một đời giờ lại tái hoàn

Nay xin cầu tự thì bàn làm sao

Có quan Bắc Đẩu Nam Tào

Sổ cầm chờ mục ghi vào tính danh

Tâu rằng xin chút gái lành

Kẻo cơ nghiệp ấy sau dành cho ai

Đức vua nghe nói êm tai

Truyền đòi công chúa thứ hai lên chầu

Khuyên con giáng thế ít lâu

Vời quan văn võ cùng nhau hiệp bàn

Tâu rằng: Đội đức thiên nhan

Non cao biển rộng khôn toan cưỡng lời

Công chúa tâu lậy mấy lời

Hóa sinh sinh hóa kiếp người kiếp tiên

Kiếp này là kiếp tiền duyên

Ghi lòng tạc dạ chép biên đời đời

Thần thông biến hóa mọi người

Trước nga hoàng giáng vốn người cung tiên

Ngọc nữ nghe lệnh chỉ truyền

Vâng lời tấu ấy diện tiền vua cha

Khấu đầu lạy trước thềm hoa

Lạy bà Hoàng Hậu chính tòa cao ngôi

Gửi truyền văn võ mấy lời

Thờ vua phải giữ lòng thời chính trung

Còn tiên lạy trước ngai rồng

Tâu rằng cho xuống độ chừng bao nhiêu

Thấy con nói hết mọi điều

Bút son đề chữ Linh Tiêu lên đầu

Thông minh linh ứng dài lâu

Tứ phương lai cộng phật đầu Dần niên

Sánh ca đàn sáo đôi bên

Dập dìu phượng liễu xuống miền dương gian

Phạm ông khi ấy thanh nhàn

Mang mang giấc mộng đoàn đoàn tiên nga

Khí thiêng sực nức mùi hoa

Sao mai thấp thoáng trời đà vầng đông

Thái bà chuyển động tâm trong

Quế Lan ngào ngạt sen hồng nở hoa

Huệ hương đang thắp đầy nhà

Giáng sinh mồng sáu tháng ba giờ Dần

Nhãn quan lóng lánh tinh thần

Mày ngang vành nguyệt da ngần vóc sương

Má đào môi hạnh phi phương

Giá so tố nữ tiên nương khôn bì

Phú ông xem thấy dị kỳ

Giáng thần ứng hiện đặt thì Tiên Nga

Yêu như ngọc dấu như ngà

Nâng châu rốn biển hứng hoa lưng trời

Màn the trướng gấm thảnh thơi

Thâm khuê dưỡng dục khác vời tiên cung

Ngũ điều thiên tính đã thông

Thử xem nền nếp cũng dòng phú gia

Chạnh lòng nghĩ đến gần xa

Nay tuy đã vậy sau đà sao đây

Năm lên mười tuổi khôn thay

Một niềm hiếu thuận nết hay ai tày

Thung huyên sớm dép tối dày

Quạt nồng ấp lạnh đêm ngày vào ra

Tôn thân thượng mục hạ hòa

Lời ăn tiếng nói nhu hòa khoan dung

Đủ điều ngôn hạnh công dung,

So xem cốt cách khác trong trần này.

Đua chen kẻ tớ người thầy,

Ra vào hầu hạ đêm ngày tựa nương.

Tới tuần tam ngũ phi phương,

Bạn Tần khách Tấn ngổn ngang đầy nhà.

Thái ông ướm hỏi dò la,

Chiêu thân sớm định để già tâm khoan. 

Nào ai dưới gối thừa hoan,

Nay con riêng phải lo toan việc nhà.

Chúa rằng đội đức sinh ra,

Ơn đà bể rộng nghĩa đà non cao.

Hổ con chút phận thơ đào,

Hình lâm tử tức tiêm vào phu quân.

Cuộc đời như thể phù vân,

Thân tiên buộc lấy duyên trần làm chi.

Nhớ khi nuôi nấng phù trì,

Nghĩ sao báo đáp ơn nghì cho phu.

Con xin dốc chí đường tu,

Triêu sớm ban tối di du vui cùng.

Mặc ai mối điệp tin ong,

Mặc ai lá thắm chỉ hồng bạn duyên. 

Khi xưa phẩm cách người tiên,

Lẽ nào nỡ để hồng liên bùn lầm.

Thái ông nghe nói mừng thầm,

Hay là đức phật Quan âm thân tiền.

Thôi chi nói sự trần duyên,

Dù con trong sạch giá tiên mặc lòng.

Đào viên then khoá kín phong,

Giữ điều trinh tiết kính cung tiên đường.

Vá may canh cửi việc thường,

Rộng ơn thí xả bốn phương dân cùng.

Nền nhân xây đắp dốc lòng,

Khói hương thấu đến cửu trùng cho thông.

Dần dần nhị kỉ ngũ đông,

Thung đường phút đà xe rồng lên chơi. 

Ngán thay dưới đất trên trời,

Một người mà gánh hai vai thâm tình.

Báo ơn tứ đức sinh thành,

Gần xa ai kẻ nức danh nữ tài.

Cư tang năm mới được hai,

Huyên đường hạc giá bay khơi lên ngàn.

Thân tiên bao quản tân toan,

Một mình khôn biết rằng bàn sao xong.

Bèn mời lân lý hương trung,

Kẻ thăm người viếng tây đông đầy nhà.

Thôn trung có kẻ lão già,

Thấy người thơ ấu nết na thương vì.

Năm thường dậy sớm luân di,

Hiếu trung hai chữ sau thì ắt nên. 

Công chúa quì xuống thưa lên,

Trình rằng ơn nặng dám quên sau này.

Thôn trung thu xếp ra tay,

Hạ tuỳ thượng xướng việc nay chu toàn.

Đưa người yên xuống hoàng tuyền,

Mặc nàng coi sóc báo đền công xưa.

Chăm coi bao quản nắng mưa,

Gọi là chút báo tóc tơ sinh thành.

Thương thay thiên đạo bất bình,

Trăm năm để giận một mình khấu công.

Ba năm lòng những dặn lòng,

Nào ai khuya sớm đà cùng việc đây.

Đến tuần tứ cửu làm trai,

Đại đàn bố thí bẩy ngày bẩy đêm.

Lòng thành thấu đến cửu thiên,

Kim tinh Thái Bạch tâu lên ngai vàng.

Tâu rằng ở dưới dương gian,

Nơi bà công chúa Đại An tâu rày.

Cù lao chín chữ thương thay,

Trông ơn thượng đế xá rày siêu sinh.

Ngọc hoàng việc ấy đã minh,

Đem bộ trắc giáng đế đình mà tra.

Phán rằng đệ nhị Tiên Nga,

Bấy lâu sao vắng đại la quảng hàn.

Triều đình tâu trước thiên nhan,

Tâu còn kỉ nữ tái hoàn tiên cung.

Ngày nay tang tóc đã xong,

Một mình coi sóc ngoài trong xa gần. 

Năm qua tháng lại lần lần,

Phong quang đã khác tiền nhân đó rồi.

Công chúa tỉnh giấc bồi hồi,

Tam tinh mộng thấy tới nơi doành doành.

Tâu rằng người ở động đình,

Vâng đem ngọc bảo kim tinh lai phù.

Bài viết liên quan
03 4545 5959
×

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN OẢN LỄ MIỄN PHÍ

×

CHỈ ĐƯỜNG

Phone MESSAGE ZALO CHAT Địa chỉ